Sách đa phương tiện
Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam

Dân tộc Co hay còn gọi là: Cua, Khua, Cùa, Trầu, Bồng Miêu, Mọi Trà Bồng, Thanh Bồng, La Thụ…; cư trú chủ yếu ở hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Theo số liệu thống kê năm 2019, đồng bào Co ở Việt Nam có 40.400 người. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, ngữ hệ Nam Á. Đồng bào Co luôn có ý thức bảo tồn bản sắc dân tộc và tự hào về truyền thống của tổ tiên.

Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam

Dân tộc Cơ Tu, còn có các tên gọi khác như: Ca-tu, Cao, Hạ, Phương, Ca-tang…, cư trú chủ yếu ở vùng núi phía Tây các tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên Huế. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, ngữ hệ Nam Á, gần gũi với tiếng Tà Ôi, Bru-Vân Kiều. Nhìn chung, người Cơ Tu là một cộng đồng cư dân tương đối thống nhất về ngôn ngữ, văn hóa và tộc danh tự gọi.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân tộc Cơ-tu ở Việt Nam có 74.173 người.

Trải qua thời gian, người Cơ Tu hôm nay vẫn còn bảo lưu, gìn giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam

Dân tộc Chứt còn có tên gọi khác: Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, Arem. Tên gọi các nhóm dân tộc thuộc dân tộc Chứt gồm: Sách, Mày, Arem, Mã Liềng, Tu Vang, Pa Leng, Xơ Lang, Tơ Hùng, Chà Cùi, Tắc Cùi, U Mo, Xá Lá Vàng. Trong các nhóm này, nhóm Mày và nhóm Sách có số lượng người đông hơn cả. Họ cư trú chủ yếu ở các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình. Tiếng nói của dân tộc Chứt thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Việt - Mường.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân tộc Chứt ở Việt Nam có 7.513 người.

Ngô Quốc Khang

Hành trình tri thức nông dân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc: Nhất trí - Nhì nhân - Tam cần - Tứ sáng

Tác giả: Ngô Quốc Khang

Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Khoa học - Công Nghệ - Truyền thông

Ngô Quốc Khang

Chuyển đổi số nông nghiệp từ tư duy người nuôi đến những chú gà triệu bước

Tác giả: Ngô Quốc Khang

Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Khoa học - Công Nghệ - Truyền thông