Popular
- NXB Thông tin và Truyền thông
- p
- hoàng
- câu chuyện
- Khoa
- ">
- chuyển đổi số
- V
- 978-604-80
- như
Nhà xuất bản Khoa học - Công Nghệ - Truyền thông
Dân tộc Ba-na hay còn gọi là Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông… bao gồm các nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, đồng bào Ba-na có 286.910 người, là dân tộc có số dân đông nhất trong nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme ở Tây Nguyên.
Dân tộc Ba-na là một trong số ít dân tộc còn đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Trần Ngọc Trác - Đặng Minh Tâm biên soạn, xuất bản cuốn sách Di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên - Một góc nhìn. Nội dung cuốn sách được kết cầu gồm 2 phần: Phần I: Khái quát một số dân tộc phổ biến ở Tây Nguyên Phần II: Di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên Cuốn sách là kết quả của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trăn trở của các tác giả với những giá trị văn hóa độc đáo của vùng đất này. Bằng lối tiếp cận đa chiều - kết hợp giữa khảo cứu, quan sát thực địa và suy ngẫm cá nhân - tác giả đã mang đến cho bạn đọc một cái nhìn sâu sắc về di sản vật thể và phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập.
Cuốn sách được xuất bản lần này là phiên bản rút gọn, kế thừa nội dung cốt lõi của cuốn sách cùng tên đã được xuất bản ở phiên bản đầy đủ. Đây được xem như một cuốn cẩm nang cần thiết, giúp người đọc có cái nhìn khái quát và nắm bắt những nội dung cơ bản về các vùng du lịch trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Nội dung cuốn sách gồm hai phần chính: Phần 1 (Chương 1-2): Trình bày cơ sở lý luận chung về tài nguyên du lịch - khái niệm, phân loại, đặc điểm, vai trò, cùng lý luận về tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam theo phân vùng mới, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2020–2025, định hướng đến năm 2030. Phần 2 (Chương 3–8): Cung cấp hệ thống kiến thức thực tiễn, cập nhật về tài nguyên du lịch Việt Nam theo các vùng lãnh thổ du lịch, được điều chỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Mỗi vùng được trình bày theo các nhóm tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, kèm định hướng tổ chức, khai thác và liên kết lãnh thổ nhằm phát huy hiệu quả, đảm bảo phát triển du lịch bền vững.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, cùng mục tiêu góp phần lan tỏa tri thức, chia sẻ kinh nghiệm và định hướng phát triển cho lĩnh vực này, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Mạnh Cường biên soạn và xuất bản cuốn sách Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Cuốn sách là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, kết hợp giữa cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động từ các địa phương, phản ánh nỗ lực chung trong việc tìm kiếm mô hình phát triển kinh tế cộng đồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa của vùng miền.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với PGS.TS. Vương Toàn (chủ biên) biên soạn và xuất bản cuốn sách Bảo tồn nét đẹp văn hóa các dân tộc Thái - Kađai. Nội dung của cuốn sách gồm 25 bài viết phản ánh đa chiều các khía cạnh văn hóa: từ phân tích cấu trúc không gian cư trú và bản sắc tộc người, đến các dạng thức tín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội, cũng như những thực hành nghệ thuật truyền thống và giá trị nhân văn sâu sắc. Các bài viết không chỉ mô tả các yếu tố văn hóa mà còn đặt chúng trong bối cảnh động của biến đổi xã hội và những thách thức đặt ra cho công tác bảo tồn trong thời đại hiện nay.
Nội dung cuốn sách Nghệ thuật Champa - Tượng Phật giáo sẽ giúp bạn đọc là các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên chuyên ngành văn hóa và những người yêu nghệ thuật cổ hiểu sâu hơn về ngôn ngữ tạo hình, biểu tượng tâm linh và tư tưởng thẩm mỹ của điêu khắc Phật giáo Champa. Hy vọng rằng, qua từng trang sách, độc giả không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của những pho tượng cổ mà còn thấy được tâm thức tôn nghiêm, niềm tin và khát vọng hướng thiện đã thấm sâu trong từng đường nét đá sa thạch Champa - một phần không thể tách rời của di sản văn hóa Việt Nam và nhân loại.
Nhằm đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về dân tộc và tôn giáo; các quan điểm, đường lối của Đảng, chinh sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, những giá trị của tôn giáo đối với đời sống xã hội, góp phần phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nhận thức đúng đắn của xxa hội về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo và các chính sách, pháp luật về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, tăng cường đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời phát huy những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 219/QĐ-Ttg ngày 21 tháng 02 năm 2019 phê duyệt đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo Thực hiện quyết định số 219/QĐ-Ttg của Thủ tướng chính phủ, Ban tôn giáo chính phủ đã được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan liên quan tổ chức xây dựng "Chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tín ngưỡng, tôn giáo"
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
.
Dân tộc Mạ hay còn gọi là Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ, bao gồm các nhóm địa phương: Mạ Ngăn, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Xốp. Tiếng nói của người Mạ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân tộc Mạ ở Việt Nam có 50.322 người, thường sống thành từng làng (bon) với một khu vực đất đai riêng biệt trên các cao nguyên thuộc các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đồng Nai.
Người Mạ hiện nay còn lưu truyền được nhiều giá trị văn hóa về phong tục, tập quán, văn nghệ dân gian, lễ hội rất phong phú và độc đáo.
Dân tộc Chu-ru còn có tên gọi khác: Cađo, Kơđu, P’nông Chàm..., cư trú tập trung chủ yếu ở miền núi các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận. Về cơ bản, người Chu-ru cũng là một cộng đồng ngôn ngữ-văn hóa thống nhất, chưa hình thành các nhóm địa phương. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynésien, ngữ hệ Nam đảo.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân tộc Chu-ru ở Việt Nam có 23.242 người.
Người Chu-ru có đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần phong phú, được lưu giữ, bảo tồn đến tận ngày nay.